Nói và nghe là 2 trong 4 kỹ năng giao tiếp cần rèn luyện cho học sinh. Với chương trình Ngữ văn 2018, số tiết dành cho kỹ năng nói và nghe rất ít, chỉ 10% tổng số thời lượng (khoảng trên 10 tiết/năm). Tuy nhiên, cần lưu ý việc rèn luyện kỹ năng nói và nghe được thực hiện ở nhiều hình thức khác nhau: Kiểm tra bài cũ, phát biểu ý kiến xây dựng bài, trao đổi thảo luận, sinh hoạt lớp... Có thể coi đó là nội dung rèn luyện nói và nghe tự do với kỹ năng giao tiếp thông thường. Số tiết 10% mà chương trình quy định được hiểu là dạy nói - nghe có nội dung theo đề tài, chủ đề bắt buộc. Cụ thể các bài nói và nghe trong bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống 10” như sau:
- Bài 1: Giới thiệu và đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm truyện.
- Bài 2: Giới thiệu và đánh giá về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ.
- Bài 3: Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau.
- Bài 4: Trình bày báo cáo nghiên cứu về một vấn đề.
- Bài 6: Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau.
- Bài 7: Thảo luận về một vấn đề văn học có ý kiến khác nhau.
- Bài 8: Thảo luận về một văn bản nội quy hay một văn bản hướng dẫn nơi công cộng.
- Bài 9: Thuyết trình về một vấn đề xã hội có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.
Vậy tiến trình giờ dạy nói - nghe nên như thế nào? Do rất ít thời gian (thường chỉ 1 tiết trong 3 tuần) nên yêu cầu đầu tiên là tập trung để học sinh thực hành nói và nghe. Giáo viên không nên sa vào lý thuyết mà chỉ dành ít thời gian giao nhiệm vụ theo định hướng mà sách giáo khoa nêu lên. Có thể hình dung giờ nói và nghe với các hoạt động như sau:
-Thứ nhất, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị giới thiệu, thuyết trình, trình bày nội dung gì (đã có bài tập nêu trong sách giáo khoa), thời gian chuẩn bị tùy vào nội dung và hình thức tổ chức, nhưng không cần nhiều (vì đã có nội dung từ đọc và viết).
-Thứ hai, tổ chức cho học sinh trình bày, giới thiệu, thuyết trình và lắng nghe theo dõi nội dung đã chuẩn bị. Đây là hoạt động chính; càng nhiều lượt học sinh được trình bày càng tốt.
-Thứ ba, tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét, phản hồi về nội dung và kỹ năng nói của người trình bày.
Từ đó giáo viên nhận xét về kỹ năng và nội dung nói, nghe của học sinh; đưa ra các uốn nắn về kỹ thuật nói, nghe (không dài dòng, tản mạn, lúng túng...) và đặc biệt về thái độ trong khi nói, nghe. Ví dụ: Người nói cần nhìn vào các bạn, biết kết hợp lời nói với ngôn ngữ hình thể; tốc độ và âm lượng khi nói nên thế nào cho phù hợp... Với việc nghe cần tôn trọng người nói như tập trung nghe, hướng về người nói... Cần có tác phong và sự tự tin khi trình bày, trao đổi...
Dạy nói - nghe không chỉ là kỹ năng nói và nghe mà còn cơ hội để rèn giũa phẩm chất, thái độ, tình cảm, lối sống có văn hóa cho học sinh. Vậy làm thế nào để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học này. Sau đây tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm giảng dạy trong giờ NÓI VÀ NGHE mà tôi đã thực hiện trong giờ học văn tại trường THPT Bạch Đằng:
- Tạo hứng thú và tự tin cho học sinh bằng cách bồi dưỡng vốn sống, vốn hiểu biết, kiến thức về các vấn đề cần trình bày và thảo luận thông qua tài liệu sách, báo, truyền hình, mạng xã hội và trải nghiệm thực tế.
-Tạo hứng thú và tự tin cho học sinh bằng cách lồng ghép rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
-Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách tổ chức giờ thực hành nói và nghe theo hình thức các trò chơi, cuộc thi.
-Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách kết hợp giáo dục định hướng tìm hiểu văn hóa, di sản truyền thống của địa phương.
-Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách lồng ghép giáo dục kĩ năng sống và cách ứng xử cho học sinh.
+ Ví dụ khi dạy bài “Thảo luận về các vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau” tôi đã hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu các bài viết trên mạng, sách báo, qua thực tế bản thân và bạn bè trong lớp, trường về vấn đề “Tình yêu học đường: Đồng tình hay phản đối.” trên các gợi ý sau:
- Những biểu hiện của tình yêu học đường.
- Những câu chuyện tình yêu học đường đẹp, đáng ngưỡng mộ.
- Những hậu quả đáng tiếc đau lòng từ tình yêu học đường mù quáng.
- Cần có cái nhìn và cách ứng xử như thế nào cho phù hợp với tình yêu tuổi học trò.
Nhờ có vốn kiến thức hiểu biết về vấn đề tình yêu học trò mà các em tìm hiểu các em không chỉ lĩnh hội được các kiến thức thực tế, vốn sống, vốn hiểu biết cho bản thân mà đặc biệt là từ đó các em tự tin hơn khi trình bày bản thuyết trình, quan điểm của mình về tình yêu học đường mà không còn lúng túng hay e dè như trước đó.


+ Hay khi bài 4 “ Trình bày báo cáo nghiên cứu về một vấn đề.” và bài 5“Lắng nghe và phản hồi về một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu.” tôi đã định hướng các em nghiên cứu một số vấn đề sau:
-Vấn đề 1: Nét đẹp văn hóa trong lễ hội hát đúm của người dân Phả Lễ- Thủy Nguyên- Hải Phòng.
-Vấn đề 2: Dấu ấn truyền thuyết trong văn hóa tâm linh của người dân Thủy Nguyên- Hải Phòng.
-Vấn đề 3: Vẻ đẹp của các câu ca dao, dân ca về Thủy Nguyên- Hải Phòng.


Trong quá trình tham gia hoạt động nghiên cứu, học sinh được rèn luyện rất nhiều kỹ năng: làm việc nhóm, xây dựng kế hoạch, giao tiếp, thuyết trình… Các nhóm phải tự bàn bạc, thống nhất, xây dựng kế hoạch trải nghiệm, phân công nhiệm vụ cho các thành viên, lên kế hoạch cá nhân, luyện tập để thuyết trình,… Học sinh có cơ hội để rèn luyện kỹ năng sử dụng CNTT, tìm kiếm và sử dụng các phần mềm tin học một cách thành thạo, hiệu quả, biết xử lý ảnh, sắp xếp theo chủ đề phù hợp, cắt ghép video, ghép nhạc, ghi âm, lồng tiếng một cách khá chuyên nghiệp. Các em còn có cơ hội hiểu sâu hơn về các di sản văn hóa của địa phương. Các em đã đến với những đền, chùa, đình miếu cổ kính, hòa mình vào không gian lễ hội trang trọng thiêng liêng tưởng nhớ người có công với miền đất quê hương mình. Những nơi mà các em đến như Đền Chợ Giá, Đền Nghè, Đền Tràng Kênh..... . Không gian học tập được mở rộng thực sự rất có ý nghĩa với học sinh. Những trải nghiệm đó thực sự thú vị và hấp dẫn, giúp các em cảm thấy rõ hơn, sâu hơn sự gắn bó giữa môn học với đời sống thực tế, góp phần bồi đắp tình cảm yêu mến, trân trọng các di sản văn hóa này. Cao hơn, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã góp phần giáo dục học sinh ý thức phát triển để nâng cao giá trị của các di sản này, từ đó đưa di sản văn hóa của địa phương đi xa hơn, được biết đến nhiều




Dạy nói và nghe không chỉ phát triển kĩ năng nói và nghe mà còn rèn giũa phẩm chất, thái độ, tình cảm, lối sống có văn hóa cho học sinh từ đó tạo nên những thói quen trong giao tiếp và ứng xử. Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố hàng đầu có ý nghĩa then chốt đến việc nâng cao chất lượng bộ môn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.